A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Không cho phép xuyên tạc về tự do báo chí ở Việt Nam

QPTĐ-Trong suốt nhiều năm qua, các báo cáo thường niên của Tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) thường xuyên đưa ra những nhận định, đánh giá sai lệch, thiếu khách quan thâm chí xuyên tạc, bóp méo về tự do báo chí tại Việt Nam. Năm nay cũng không phải ngoại lệ, khi vào ngày 30 tháng 4 vừa qua, RSF tiếp tục công bố cái gọi là “Báo cáo tự do báo chí thường niên”, trong đó xếp hạng báo chí Việt Nam ở vị trí 174/180 quốc gia. Ngay sau đó, một số trang tiếng Việt ở hải ngoại vốn có cái nhìn thiếu thiện chí như BBC, RFI cùng các nền tảng mạng xã hội đua nhau đăng tải, bình luận, cố tình xuyên tạc và bôi nhọ đời sống báo chí ở Việt Nam.

Ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được bảo đảm trong thực tiễn.

Cái nhìn phiến diện, thiếu thiện chí

Xếp hạng tự do báo chí là chiêu trò quen thuộc của RSF nhằm đưa ra những nhận định, đánh giá thiếu khách quan, thậm chí xuyên tạc, bóp méo sự thật về tình hình  tự do báo chí ở Việt Nam. Từ đó vu khống rằng Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí; Việt Nam vi phạm nhân quyền. Điều nực cười là RSF xếp hạng tự do báo chí ở Việt Nam nhưng lại không dựa vào nguồn dữ liệu chính thống nào; không tiếp xúc, nghiên cứu hay khảo sát ở bất kỳ một cơ quan báo chí nào. RSF cũng không nghiên cứu, khảo sát độc giả, khán giả Việt Nam, những người tiếp nhận thông tin từ báo chí Việt Nam.

RSF lại xây dựng báo cáo dựa trên thông tin sai lệch, thông tin xuyên tạc của các phần tử phản động, cơ hội chính trị ở hải ngoại hay những đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam đã và đang bị xử lý. Chính vì vậy báo cáo của RSF rất khiên cưỡng, thiếu khách quan, không phản ánh thực tế đời sống báo chí ở Việt Nam. Các số liệu, dẫn chứng mà RSF đưa ra hoàn toàn là bịa đặt. RSF còn trắng trợn xuyên tạc rằng: Các phóng viên và blogger độc lập thường xuyên bị bỏ tù, biến Việt Nam thành "một trong những nhà tù lớn nhất thế giới dành cho các nhà báo".

 Đặc biệt, báo cáo của RSF còn nhắc đến Phạm Đoan Trang, đối tượng đã bị Tòa án Việt Nam xét xử về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” và viện dẫn các giải thưởng của RSF như một cách để ngụy biện cho hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng.

Cũng không biết RSF dựa vào đâu mà cho rằng: “có khoảng 40 nhà báo đang bị giam giữ trong các nhà tù ở Việt Nam, nơi tình trạng ngược đãi diễn ra tràn lan”. Rồi RSF còn cổ súy cho một số đối tượng cơ hội chính trị, đối tượng chống đối núp bóng dưới vỏ bọc hội, nhóm như “Báo Sạch” hay “Hiệp hội Nhà báo Độc lập Việt Nam” và coi các hội, nhóm này là “sáng kiến báo chí xuất phát từ xã hội dân sự”. 

Câu hỏi đặt ra là liệu những nhận xét, thống kê và phân tích của RSF có thực sự phản ánh một cách khách quan, đúng bản chất tự do báo chí Việt Nam? Hay đó chỉ là những chiêu trò được dàn dựng công phu bởi các thế lực thù địch, thiếu thiện chí, luôn định kiến với mục đích bôi nhọ, hạ thấp uy tín của một quốc gia đang không ngừng phát triển và hội nhập quốc tế? Để có câu trả lời chính xác, chúng ta cần quy chiếu những lập luận đó vào các chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam là thành viên có trách nhiệm cũng như thực tiễn sinh động của đời sống báo chí Việt Nam. 

Tự do báo chí dưới góc nhìn của pháp luật quốc tế

Theo Điều 19 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, quyền tự do ngôn luận được khẳng định là quyền cơ bản của mỗi con người, bao gồm quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt thông tin dưới mọi hình thức. Tuy nhiên, cũng chính công ước này đã chỉ rõ rằng việc thực hiện các quyền đó không phải là tuyệt đối, mà phải đi kèm với những nghĩa vụ và trách nhiệm. Các quốc gia có quyền đặt ra những giới hạn nhất định bằng luật pháp, nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe, đạo đức xã hội, cũng như quyền và uy tín của người khác.

Một điểm đáng chú ý là RSF khi nhận xét, đánh giá, bình luận về tự do báo chí ở Việt Nam đã cố tình lược bỏ phần quan trọng này của công ước quốc tế. Họ chỉ tập trung thổi phồng khía cạnh quyền tự do, mà không hề đề cập đến giới hạn của tự do, một nguyên tắc phổ biến được áp dụng ở bất kỳ quốc gia pháp quyền nào, từ châu Âu, châu Mỹ đến châu Á. Họ cũng phớt lờ vai trò điều tiết của pháp luật trong việc đảm bảo một nền báo chí lành mạnh, có trách nhiệm với cộng đồng.

Tại Việt Nam, quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận không chỉ được thừa nhận mà còn được ghi rõ trong Hiến pháp, đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 quy định rất rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Dựa trên nền tảng hiến định đó, Nhà nước Việt Nam đã ban hành và thực thi một hệ thống pháp luật đồng bộ như Bộ luật Hình sự, Luật Báo chí, Luật An ninh mạng, trong đó quy định cụ thể quyền và trách nhiệm của nhà báo, của công dân khi tham gia hoạt động báo chí.

Chính vì vậy, khẳng định rằng Việt Nam “bỏ tù nhà báo” là một sự xuyên tạc có chủ đích. Những cá nhân bị xử lý hình sự mà RSF gọi là “blogger”, “nhà báo độc lập” thực chất là những tội phạm đã có hành vi vi phạm pháp luật hình sự, xâm phạm đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội, những yếu tố được luật pháp của bất kỳ quốc gia có chủ quyền nào bảo vệ. Không có bất kỳ một nhà báo chân chính nào bị bắt giữ chỉ vì lý do hành nghề báo chí đúng pháp luật.

Thực tiễn đời sống báo chí ở Việt Nam

Nếu chỉ dừng lại ở các văn bản pháp luật, có lẽ chưa đủ để thấy được bức tranh toàn cảnh về tự do báo chí tại Việt Nam. Thực tiễn đời sống báo chí sinh động những năm qua ở Việt Nam phơi bày sự sai lệch, thiếu khách quan trong cách đánh giá của RSF. Theo số liệu chính thức từ Bộ Văn hóa-Thể thao và Du Lịch, Việt Nam hiện có 778 cơ quan báo chí (cả báo in và báo điện tử, phát thanh-truyền hình. Cả nước có gần 50.000 người làm việc trong lĩnh vực báo chí, trong đó hơn 21.000 người được cấp thẻ nhà báo. Đội ngũ những người làm báo chính thống ngày càng được trẻ hóa, năng động và tiếp cận với những phương thức tác nghiệp hiện đại. Nhiều nhà báo được Nhà nước tạo điều kiện đi học tập, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, tác nghiệp báo chí tại nhiều quốc gia trên thế giới.

Bên cạnh đó, công chúng Việt Nam có quyền bày tỏ quan điểm, phản biện và đóng góp ý kiến về mọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua vô số các phương tiện truyền thông khác nhau, từ các diễn đàn trực tuyến, trang thông tin điện tử tổng hợp đến các nền tảng mạng xã hội. Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển Internet nhanh nhất thế giới. Báo cáo Digital Marketing Việt Nam năm 2025 cho thấy có khoảng 79,8 triệu người sử dụng Internet, chiếm 78,8% dân số. Số lượng người dùng mạng xã hội đạt 76,2 triệu tài khoản, tương ứng 75,2% dân số, khẳng định vị thế của Việt Nam là một trong những thị trường kỹ thuật số phát triển nhanh nhất Đông Nam Á. Những con số này chứng tỏ không có bất kỳ một sự bưng bít thông tin hay hạn chế tự do báo chí nào như báo cáo của RSF cáo buộc.

Một lần nữa, thực tiễn sinh động của đời sống báo chí Việt Nam là minh chứng vững chắc nhất cho thấy quyền tự do báo chí không chỉ được khẳng định bằng pháp luật mà còn được bảo đảm trên thực tế. Các nhà báo chân chính có đầy đủ cơ sở pháp lý và môi trường thuận lợi để tác nghiệp, cống hiến, trong khi mọi hành vi lợi dụng danh nghĩa báo chí để xâm phạm lợi ích quốc gia, kích động bạo lực, hoặc vi phạm đạo đức nghề nghiệp đều phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật, một thông lệ không có gì đặc biệt trên thế giới.

Việt Nam hoan nghênh những đánh giá khách quan, khoa học đến từ các tổ chức quốc tế có thiện chí; nhưng kiên quyết phản bác và không cho phép bất kỳ tổ chức nào, kể cả RSF được quyền xuyên tạc, bóp méo sự thật về tự do báo chí tại Việt Nam, một đất nước đang vươn mình mạnh mẽ với những giá trị chân chính của hòa bình, dân chủ và phát triển.

Minh Thắng


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Dự báo thời tiết
Thời tiết Hà Nội