Phát triển kinh tế tư nhân-Không phải "Chệch hướng" mà là sáng tạo của Đảng ta
QPTĐ-Trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, các thế lực thù địch và một số quan điểm sai trái đã cố tình xuyên tạc, cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam phát triển kinh tế tư nhân là “chệch hướng xã hội chủ nghĩa”, là “từ bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước”.
Thực tiễn và lý luận đã chứng minh: Phát triển kinh tế tư nhân không những không làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa, mà trái lại, là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện tư duy đổi mới đúng đắn, nhất quán và ngày càng hoàn thiện của Đảng ta. Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân được Ban Chấp hành Trung ương ban hành vào ngày 04 tháng 5 năm 2025, với mục tiêu đưa kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế quốc dân (1). Là một trong “bộ từ chiến lược” của Kỷ nguyên vươn mình, có vai trò và ý nghĩa to lớn trong việc đưa kinh tế tư nhân trở thành mũi nhọn quan trọng, chủ đạo của nền kinh tế quốc gia, tạo đột phá phát triển thông qua việc cải cách thể chế, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, khơi thông nguồn lực (vốn, đất đai, công nghệ). Ý nghĩa nằm ở việc xác định lại vai trò doanh nhân, xây dựng quan hệ Nhà nước - doanh nghiệp gắn bó, hỗ trợ để kinh tế tư nhân phát triển toàn diện, bền vững, hội nhập, hướng tới mục tiêu quốc gia thịnh vượng đến năm 2045.
Lý luận khẳng định kinh tế tư nhân không đối lập với chủ nghĩa xã hội
Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định: Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế là tất yếu khách quan. V.I. Lênin khi thực hiện chính sách kinh tế mới (NEP) đã nhấn mạnh “việc sử dụng kinh tế tư nhân, kinh tế hàng hóa như một phương tiện để khôi phục và phát triển lực lượng sản xuất, tạo tiền đề vật chất cho chủ nghĩa xã hội” (2). Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng sớm khẳng định quan điểm đúng đắn về vai trò của kinh tế tư nhân. Người chỉ rõ: “Các nhà tư sản dân tộc, nếu làm lợi cho quốc kế dân sinh thì Chính phủ giúp đỡ”(3); đồng thời nhấn mạnh phải khuyến khích làm giàu chính đáng, gắn lợi ích cá nhân với lợi ích dân tộc. Như vậy, xét về bản chất, kinh tế tư nhân không phải là đặc trưng riêng của chủ nghĩa tư bản, mà là một hình thức tổ chức sản xuất – kinh doanh tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ, có thể và cần được sử dụng, quản lý, định hướng phục vụ mục tiêu xã hội chủ nghĩa.
Thực tiễn Việt Nam phát triển kinh tế tư nhân là tất yếu khách quan
Đại hội XIII khẳng định: “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế” (4). Thực tiễn chặng đường 40 năm đổi mới (1986- 2026) đã ghi dấu một Việt Nam kiên cường, bứt phá và khát khao phát triển. Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, kém hiệu quả, với thu nhập bình quân đầu người vẻn vẹn 96 USD vào năm 1989, Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ, dự kiến đến hết năm 2025, sẽ bước vào nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao, tương đương mức trên 5.000 USD/ người/ năm. Kỳ tích này không chỉ là kết quả của đường lối phát triển đúng đắn dưới sự lãnh đạo của Đảng với những cải cách táo bạo, quyết đoán về thể chế, chính sách và hội nhập mà còn là thành quả của tinh thần lao động chăm chỉ, sáng tạo, ý chí quyết tâm và sự nỗ lực không ngừng của toàn dân tộc ta. Điều đáng tự hào hơn nữa là tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam luôn cao gấp đôi mức trung bình của các quốc gia đang phát triển, bất chấp những biến động kinh tế toàn cầu. Từ một nền kinh tế nghèo nàn, phụ thuộc vào viện trợ quốc tế, Việt Nam đã không ngừng bứt phá mạnh mẽ để trở thành nền kinh tế lớn thứ 24 thế giới tính theo sức mua tương đương với thu nhập bình quân trên tỉ lệ dân số quốc gia. Những thành tựu đạt được không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn bao gồm những tiến bộ to lớn về phát triển các lĩnh vực khác nhau của xã hội, góp phần mang lại đời sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc cho toàn thể nhân dân Việt Nam.

Kính tế tư nhân ngày càng khẳng định vị thế (Ảnh: VTV)
Thành công này có sự đóng góp rất quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân. Nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới, kinh tế tư nhân chỉ giữ vai trò thứ yếu, nền kinh tế chủ yếu dựa vào khu vực nhà nước và vốn đầu tư nước ngoài (FDI), thì trong hai thập niên trở lại đây, nhất là khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 09 năm 2011 và Trung ương ban hành Nghị quyết 10 năm 2017 về phát triển kinh tế tư nhân, khu vực kinh tế này đã trỗi dậy mạnh mẽ, trở thành một trong những trụ cột quan trọng hàng đầu của nền kinh tế và ngày càng thể hiện là động lực quan trọng nhất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia. Với gần một triệu doanh nghiệp (lớn, vừa, nhỏ), khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể, khu vực kinh tế tư nhân hiện đang đóng góp khoảng 51% GDP, hơn 30% ngân sách nhà nước, tạo ra hơn 40 triệu việc làm cho người dân, chiếm hơn 82% tổng số lao động trong nền kinh tế, đóng góp gần 60% vốn đầu tư toàn xã hội. Kinh tế tư nhân không chỉ giúp mở rộng sản xuất, thương mại, dịch vụ mà còn góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia. Sự vươn lên mạnh mẽ của nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam không chỉ làm chủ thị trường nội địa mà còn khẳng định thương hiệu trên thị trường quốc tế. Điều này chứng tỏ rằng nếu có môi trường phát triển thuận lợi, doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể vươn xa, cạnh tranh sòng phẳng với thế giới (5).
Tuy nhiên, dù đóng góp ngày càng lớn, kinh tế tư nhân hiện vẫn đối mặt với nhiều rào cản kìm hãm sự phát triển, không thể bứt phá về quy mô và năng lực cạnh tranh. Nhiều hộ kinh tế cá thể vẫn theo nếp kinh doanh cũ, thiếu động lực phát triển thành doanh nghiệp, thậm chí "không muốn lớn". Phần lớn doanh nghiệp tư nhân Việt Nam thuộc nhóm doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, tiềm lực tài chính và trình độ quản trị hạn chế, thiếu sự kết nối với nhau cũng như với khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài; chưa tận dụng tốt các cơ hội mà cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại, vẫn chậm chuyển đổi số, rất ít doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D), ít chú trọng đổi mới mô hình kinh doanh, đổi mới công nghệ hoặc sáng tạo sản phẩm mới. Vì vậy, rất khó nâng cao giá trị gia tăng, thúc đẩy năng lực cạnh tranh, nâng tầm giá trị doanh nghiệp và vươn tới đẳng cấp quốc tế.
Ngoài những hạn chế nội tại, các doanh nghiệp tư nhân còn gặp nhiều rào cản trong tiếp cận nguồn lực, đặc biệt là vốn tín dụng, đất đai, tài nguyên và nhân lực chất lượng cao, nhất là trong các ngành công nghệ, kỹ thuật và tài chính. Trong khi đó, một số doanh nghiệp nhà nước nắm giữ nhiều tài nguyên, đất đai, nguồn vốn, nguồn nhân lực chất lượng nhưng lại chưa khai thác hiệu quả, thậm chí còn để lãng phí. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập, chồng chéo, môi trường kinh doanh nhiều trở ngại, thủ tục hành chính phức tạp, tốn nhiều thời gian, chi phí và tiềm ẩn rủi ro. Nhiều trường hợp quyền tự do kinh doanh và quyền tài sản vẫn bị xâm hại bởi sự yếu kém hoặc lạm quyền của một số cán bộ công chức trong thực thi công vụ. Mặt khác, các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Chính phủ chưa thực sự hiệu quả và công bằng giữa các khu vực kinh tế và không dễ tiếp cận đối với kinh tế tư nhân. Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài vẫn nhận được nhiều ưu đãi hơn so với khu vực tư nhân. Doanh nghiệp nhà nước thường thuận lợi hơn trong tiếp cận đất đai, vốn, tín dụng; trong khi doanh nghiệp nước ngoài thường được hỗ trợ tốt hơn về thuế, thủ tục hải quan, và cả tiếp cận đất đai. Ngoài ra, hiện tượng nhũng nhiễu, chi phí không chính thức vẫn còn tồn tại, tạo ra một gánh nặng vô hình đối với doanh nghiệp tư nhân, làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh và gây tâm lý e ngại khi mở rộng đầu tư. Rõ ràng, những hạn chế phát triển của doanh nghiệp tư nhân xuất phát một phần từ những bất cập của hệ thống thể chế và chính sách kinh tế và môi trường kinh doanh. Những điểm nghẽn này không chỉ kìm hãm tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế tư nhân, khiến tỷ trọng đóng góp của khu vực này trong GDP gần như không thay đổi trong hơn một thập kỷ qua, mà còn cản trở nền kinh tế nâng cao giá trị gia tăng, thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, làm chậm tiến trình đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 theo mục tiêu Nghị quyết của Đảng và kỳ vọng của nhân dân (6). Từ những kết quả và hạn chế ở trên, các chủ thể có liên quan đến việc thúc đẩy, tạo đà cho phát triển kinh tế tư nhân cần thực hiện tốt một số nội dung yêu cầu sau:
Thứ nhất, Đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, cả hệ thống chính trị vào cuộc nhanh chóng vận hành hiệu quả Nghị quyết 68 “về phát triển kinh tế tư nhân”. Xác định kinh tế tư nhân phải là lực lượng tiên phong trong kỷ nguyên mới, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia, có trách nhiệm xã hội, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, tham gia xây dựng xã hội văn minh, hiện đại và góp phần xây dựng một Việt Nam năng động và hội nhập quốc tế. Kinh tế tư nhân cần phấn đấu trở thành lực lượng chủ lực, đi đầu trong ứng dụng công nghệ và đổi mới, sáng tạo, để đạt mục tiêu đóng góp khoảng 70% GDP vào năm 2030; ngày càng nhiều doanh nghiệp tư nhân có năng lực cạnh tranh toàn cầu, làm chủ công nghệ và hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng quốc tế; cùng cả nước xây dựng nên một Việt Nam năng động, độc lập, tự chủ, tự cường và phát triển thịnh vượng.
Thứ hai, Nhà nước phải có phương thức quản lý phù hợp với cơ chế thị trường, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản và quyền cạnh tranh bình đẳng của kinh tế tư nhân; xóa bỏ mọi rào cản, minh bạch hóa chính sách, loại bỏ lợi ích nhóm trong hoạch định chính sách và phân bổ nguồn lực, không phân biệt đối xử giữa khu vực kinh tế tư nhân với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trong mọi chính sách. Đồng thời, nhất quán quan điểm "mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm", xây dựng chính sách làm yên lòng các nhà đầu tư, doanh nghiệp và doanh nhân, cần tạo dựng niềm tin mạnh mẽ hơn giữa Nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân, qua đó khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, đổi mới sáng tạo và tham gia vào các lĩnh vực kinh tế có tính chiến lược. Cần khuyến khích, hỗ trợ và định hướng sự phát triển của kinh tế tư nhân, phải tạo ra một động lực đột phá, mở ra kỷ nguyên vươn mình của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam. Cần xác định phát triển kinh tế tư nhân là chiến lược, chính sách lâu dài của quốc gia. Kinh tế tư nhân cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể là tập hợp nòng cốt để xây dựng nền kinh tế quốc dân “tự chủ, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc Việt Nam”.
Thứ ba, Chính phủ cần tiếp tục có những cải cách đột phá về thể chế, chính sách và môi trường kinh doanh để kinh tế tư nhân có thể phát huy tối đa tiềm năng, trở thành động lực dẫn dắt nền kinh tế vươn ra thị trường quốc tế. Bởi một nền kinh tế cường thịnh không thể chỉ dựa vào khu vực nhà nước hay đầu tư nước ngoài, mà phải dựa vào nội lực là khu vực tư nhân vững mạnh, đóng vai trò tiên phong trong đổi mới và phát triển đất nước. Nền kinh tế quốc gia chỉ thực sự cường thịnh khi toàn dân tham gia lao động tạo ra của cải vật chất, một xã hội mà người người, nhà nhà, ai cũng hăng say lao động. Trước yêu cầu đó, chúng ta cần phải quán triệt lại định hướng quan điểm và nhận thức trong cả hệ thống chính trị về vai trò của kinh tế tư nhân như là động lực tăng trưởng quan trọng hàng đầu của đất nước. Điều này đòi hỏi một sự thay đổi căn bản trong hoạch định chính sách, khắc phục những hạn chế và phát huy tính ưu việt của cơ chế thị trường để hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân nâng cao năng suất lao động và đổi mới sáng tạo (7).
Thứ tư, Chính phủ chú trọng thúc đẩy làn sóng khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ mới AI trong phát triển kinh tế tư nhân.
Đây là yếu tố then chốt giúp kinh tế tư nhân bứt phá và vươn tầm quốc tế. Cần có những chính sách hỗ trợ mạnh mẽ và hiệu quả để thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân ứng dụng công nghệ, đổi mới sản phẩm, nâng cao giá trị gia tăng. Nhà nước cần tạo khung pháp lý thử nghiệm (sandbox) cho các lĩnh vực công nghệ mới, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào các lĩnh vực tiên phong như trí tuệ nhân tạo, blockchain, dữ liệu lớn, thương mại điện tử, công nghệ tài chính (fintech) và y tế thông minh... Triển khai các chính sách hỗ trợ tài chính và ưu đãi thuế cho doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu phát triển (R&D). Hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp mạnh mẽ, tạo điều kiện cho các startup, các "kỳ lân công nghệ" mang tên Việt Nam vươn tầm quốc tế.
Thứ năm, Quốc hội và các cơ quan lập pháp cần tập trung cải cách thể chế, kiến tạo nền hành chính minh bạch để phục vụ doanh nghiệp - phụng sự đất nước.
Cần quyết liệt cải cách thể chế trên nền tảng đổi mới tư duy trong cải cách mạnh mẽ nền hành chính hướng đến phục vụ người dân, doanh nghiệp; quyết đoán trong cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, đẩy nhanh quá trình số hóa và ứng dụng công nghệ trong quản lý nhà nước nhằm giảm thời gian, chi phí tuân thủ, chi phí không chính thức; thiết lập cơ chế đối thoại, phản biện chính sách hiệu quả, tạo điều kiện để cộng đồng doanh nghiệp tư nhân tham gia góp ý vào quá trình hoạch định chính sách kinh tế, đảm bảo tính thực tiễn và khả thi cao. Phấn đấu trong vòng 5 năm tới (2026 - 2030), môi trường kinh doanh của Việt Nam nằm trong Top 3 của nội khối ASEAN và Top 15 Thế giới (8).
Phát triển kinh tế tư nhân không làm suy yếu mà có vai trò củng cố, định hướng phát xã hội chủ nghĩa bền vững
Một số quan điểm sai trái cho rằng, phát triển kinh tế tư nhân sẽ làm “tư nhân hóa” nền kinh tế, làm mất vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Đây là cách nhìn phiến diện, giản đơn. Định hướng xã hội chủ nghĩa không được quyết định bởi việc có hay không kinh tế tư nhân, mà bởi: vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; Bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; Mục tiêu phát triển vì con người, vì tiến bộ và công bằng xã hội; Vai trò điều tiết, định hướng của Nhà nước đối với nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, nắm giữ các lĩnh vực then chốt, bảo đảm ổn định vĩ mô và định hướng phát triển; kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển trong khuôn khổ pháp luật, gắn với trách nhiệm xã hội, chịu sự quản lý của Nhà nước và sự lãnh đạo của Đảng. Do đó, phát triển kinh tế tư nhân không làm suy yếu mà trái lại tạo thêm nguồn lực để Nhà nước thực hiện các mục tiêu xã hội, củng cố nền tảng kinh tế của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Phát triển kinh tế tư nhân-biểu hiện sinh động của tư duy sáng tạo, tầm nhìn chiến lược của Đảng ta
Biểu hiện sinh động của tư duy sáng tạo, tầm nhìn chiến lược của Đảng ta về kinh tế tư nhân thể hiện qua sự công nhận vai trò quan trọng của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN (Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII, Nghị quyết 10-NQ/TW khóa XII) với các chính sách đột phá như tạo môi trường bình đẳng, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, khuyến khích đổi mới sáng tạo, thu hút đầu tư tư nhân, coi đây là động lực quan trọng cho tăng trưởng, tạo việc làm và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thể hiện sự linh hoạt, thích ứng với thực tiễn để kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ, thực sự trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Sự phát triển tư duy, tầm nhìn chiến lược của Đảng ta về kinh tế tư nhân thể hiện rõ bản lĩnh chính trị, tính khoa học và cách mạng, không giáo điều, máy móc; không sao chép mô hình nước ngoài; luôn xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, vì lợi ích quốc gia-dân tộc. Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “yêu cầu xây dựng đội ngũ doanh nhân Việt Nam có bản lĩnh chính trị, đạo đức kinh doanh, trách nhiệm xã hội, góp phần thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” (9). Đây chính là điểm khác biệt căn bản giữa phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam với chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh.
* Kết luận:
Phát triển kinh tế tư nhân không phải là sự “chệch hướng”, càng không phải là sự thỏa hiệp về nguyên tắc, mà là kết quả của quá trình nhận thức ngày càng sâu sắc, toàn diện và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa với đổi mới tư duy, giữa lý luận và thực tiễn, giữa phát triển kinh tế với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội. Việc phát triển đúng hướng kinh tế tư nhân chính là minh chứng sinh động cho bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức và trách nhiệm lịch sử của Đảng ta trước vận hội mới của dân tộc Việt Nam và thời đại Hồ Chí Minh.
* Tài liệu tham khảo:
(1). Nghị quyết số 68-NQ/TW (04/5/2025) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIII “Về phát triển kinh tế tư nhân”.
(2). V.I. Lê-nin, Toàn tập, tập 43. Nxb Tiến bộ Matxcơva 1978, tr.207
(3). Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG-ST, Hà Nội 2011, tr.59
(4),(9). Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, tr.60, 122
(5). Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm (18/3/2025) về “Phát triển kinh tế tư nhân – Đòn bẩy cho một Việt Nam thịnh vượng”.
(6). Báo pháp luật Tp. HCM (10/6/2025), Hội thảo khoa học “Loại bỏ những rào cản để kinh tế tư nhân phát triển theo Nghị quyết 68”.
(7). Nghị quyết 138/NQ-CP (16/5/2025) của Chính phủ “Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết 68”. Nghị quyết 139/NQ-CP (17/5/2025) của Chính phủ“Về chính sách đặc thù phát triển kinh tế tư nhân”.
(8). Nghị quyết 198/2025/QH15 (17/5/2025) của Quốc hội “Về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân”.
Thượng tá, Ths Phan Huy Hùng
Khoa tâm lý học quân sự, Học viện Chính trị, BQP



