Giữa trùng khơi, nghe Tổ quốc trong nhịp tim mình
QPTĐ-Hành trình đến với Trường Sa của người lính Hà Nội không chỉ hiển thị bằng hải lý mà được thấm bởi những rung động lặng sâu trong tâm trí. Nắng-gió nơi đây không giống với bất kỳ nơi nào chúng tôi từng đi qua. Nó không chỉ mang theo vị mặn của biển mà còn thấm vào da thịt, thấm vào trái tim với cảm xúc không thể gọi tên. Ở đó có niềm tự hào, thiêng liêng nơi trái tim của biển. Hành trình của gần 300 thành viên, trong đó Đoàn Hà Nội gồm 85 đồng chí và của riêng tôi chính là như thế.
Con tàu mang biển số KN490, bắt đầu rẽ sóng từ đất liền ra khơi trong buổi sớm nắng dịu của những ngày tháng tư lịch sử (cũng là thời khắc kỷ niệm 51 năm giải phóng Đảo). Biển ban đầu hiền hòa, nhưng càng ra khơi, sắc xanh càng trở nên thăm thẳm. Sau ngày rung nhẹ bởi những con sóng, ngày thứ hai của chuyến hải trình, tôi đứng trên boong tàu, hướng về phía chân trời, lúc này dường như ranh giới giữa trời-nước như hòa làm một. Lần đầu tiên trong nhiều năm là Nhà báo chiến sĩ, tôi cảm nhận rõ hơn sự rộng lớn của không gian biển đảo Việt Nam-nơi mà trước đây, tôi và nhiều đồng chí trong Đoàn đều tiếp cận từ bản đồ, qua truyền thông...
Trên cương vị Phó Tổng Biên tập Báo Quốc phòng Thủ đô, tôi đã từng viết lời bình, biên tập phim 26 phút “Dáng đứng Trường Sa”, phát sóng và chiếu trực tiếp tại hơn 500 xã, phường trên địa bàn Thành phố trong buổi Toạ đàm "Hà Nội với Trường Sa-trách nhiệm của LLVT Thủ đô" năm 2024; tạo hiệu ứng tích cực đối với quân, dân, nhất là thế hệ trẻ trên địa bàn Thủ đô về biển đảo thân yêu của Tổ quốc nhưng phải đến chuyến đi này, khi trực tiếp đặt chân lên quần đảo Trường Sa, tôi càng thấm hơn ý nghĩa thiêng liêng của hai chữ “chủ quyền”.
Chứng kiến giây phút những người lính hải quân trong màu áo trắng điểm sắc xanh của biển chờ sẵn chúng tôi (tại quân cảng Cam Ranh) tiễn Đoàn lên đường, đến khoảnh khắc những người đồng đội thân yêu đón tàu cập bến tại điểm đầu tiên-Sơn Ca, tôi và những thành viên trong Đoàn đã thực sự xúc động. “Đồng chí” đón chúng tôi bằng những cái bắt tay chắc nịch, với nụ cười mộc mạc nhưng đầy ấm áp. Nắng gió đã in dấu lên làn da nhưng không làm phai đi ánh nhìn kiên định. Ở họ, có một sự bình thản thật đặc biệt-bình thản trước gian khó, trước cô đơn và trước cả những thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên, biển cả…
Bước chân trên đảo trôi nhanh nhưng khoảnh khắc bàn chân chạm đến trái tim biển của Tổ quốc đều đọng lại ấn tượng thật sâu sắc. Chúng tôi thăm nơi làm việc, sinh hoạt, khu tăng gia sản xuất của cán bộ, chiến sĩ… Mặc nắng gắt và gió biển mặn mòi, những luống rau vẫn xanh, đàn gia cầm nơi tiền tiêu của Tổ quốc vẫn được chăm sóc chu đáo. Chúng tôi hiểu, thành quả ấy không chỉ là biểu trưng kết quả của lao động, mà còn là biểu hiện của ý chí-ý chí vượt lên hoàn cảnh-để duy trì sự sống, để giữ cho đảo hiên ngang giữa biển trời và điều đáng quý hơn là để nơi đây chính là nhà.
Qua nhiều điểm đảo như Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn Đông, Len Đao, Núi Le (C), Phan Vinh, đến ngày thứ 7 của chuyến hải trình, chúng tôi có mặt tại điểm đảo Trường Sa Đông và Trường Sa Lớn. Cảm giác của người quân nhân trong quân ngũ, đứng trước cột mốc chủ quyền và dự Lễ chào cờ nơi đầu sóng, ngọn gió, tôi thấu cảm được sự thiêng liêng và xúc động hơn bao giờ hết. Giữa không gian biển trời rộng lớn, tiếng Quốc ca vang lên đầy trang nghiêm. Vẫn là nghi thức tại các đơn vị quân đội nhưng ở nơi đây, nó lại có một sức lan tỏa mạnh mẽ. Vừa tác nghiệp tôi vẫn cảm nhận rõ ràng nhịp tim mình hòa cùng giai điệu quen thuộc. Trong giây phút ấy, mọi khoảng cách dường như được xóa nhòa-chỉ còn lại một niềm tin chung, một ý chí chung hướng về Tổ quốc. Cũng khoảnh khắc ấy, chúng tôi càng thêm trân trọng công lao của những thế hệ đi trước-những người khai sinh và ngày đêm canh giữ biển trời của Tổ quốc thân yêu. Họ không tiếc máu xương để bảo vệ từng tấc đất, hòn đảo. Lịch sử không nằm ở đâu xa, mà hiện hữu ngay trước mắt, trong từng dấu chân trên đảo, trong từng công trình được xây dựng giữa trùng khơi.

Điều đáng nói trong những cuộc trò chuyện, điều khiến tôi trăn trở nhất không phải là những khó khăn cán bộ, chiến sĩ nơi đây kể lại, mà là cách họ nói về chúng-nhẹ nhàng, giản dị, như một phần tất yếu của nhiệm vụ. Một chiến sĩ trẻ chia sẻ với tôi: Điều khó nhất không phải là thiếu thốn vật chất, mà là nỗi nhớ đất liền. Cậu khẽ cười và nói, mỗi khi nhìn lá cờ bay trên đảo, mọi nỗi nhớ dường như lắng lại: “Ở đây, tụi em biết mình đang đứng ở đâu và vì điều gì” câu nói của người lính trẻ cứ thế theo tôi suốt chuyến hải trình
Tôi bắt đầu nhìn lại, nhìn lại chặng đường công tác đã qua. Ở đất liền, dù khó khăn nhưng chúng tôi có đầy đủ điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng ở nơi đầu sóng ngọn gió, mỗi kết quả đạt được đều là sự kết tinh của kiên trì, của tinh thần quyết không chùn bước trước thử thách, gian nguy. Đó chính là dấu ấn không thể nào quên của người lính về những người lính hải quân nơi biển đảo Việt Nam.
.jpeg)
Chuyến hải trình kết thúc sau 7 ngày công tác, con tàu đưa chúng tôi trở về đất liền. Khi đảo dần khuất sau đường chân trời, tôi vẫn lặng nhìn hồi lâu. Ở đó đó có những đồng chí, đồng đội thân yêu của tôi. Họ đã không quản ngại khó khăn gian khổ để bảo vệ bình yên cho Tổ quốc thân yêu.
Trường Sa, đối với từng thành viên trong Đoàn không còn là một điểm đến, mà là một dấu mốc trong nhận thức và trách nhiệm. Chuyến đi này không chỉ giúp tôi hiểu sâu hơn về vị trí chiến lược của biển đảo Việt Nam, mà còn nhắc nhở tôi về vai trò của bản thân trong việc tuyên truyền sâu rộng hơn về biển, đảo quê hương- nơi trái tim của Tổ quốc, ở đó có những đồng đội, đồng chí của tôi-họ đang kiên trung vì Tổ quốc.
Trường Sa vẫn ở lại phía biển xa, nhưng những gì tôi mang về không chỉ là kỷ niệm. Đó là niềm tin, là sự thôi thúc, và cũng là lời nhắc nhở thường trực về trách nhiệm của một người quân nhân trong thời bình.
Và tôi yêu những người lính Quân chủng Hải quân Việt Nam-bởi họ vẫn ngày đêm kiên trung canh giữ biển trời!
Trần Hiền



